Cục Thông tin đối ngoại – Bộ Thông tin Truyền thông
Cục Thông tin đối ngoại – Bộ Thông tin Truyền thông
Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Quảng Nam
Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Quảng Nam
Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước
Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước
Ủy ban nhân dân thành phố Hội An
Ủy ban nhân dân thành phố Hội An
Văn phòng Thường trực về Nhân quyền
Văn phòng Thường trực về Nhân quyền
news_details

Giá trị ý nghĩa về Nhân quyền trong các mộc bản triều Nguyễn

Giá trị ý nghĩa về Nhân quyền trong các mộc bản triều Nguyễn

Mộc bản triều Nguyễn là di sản tư liệu thế giới đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận ngày 31 tháng 7 năm 2009, gồm 34.618 tấm, là những văn bản chữ Hán - Nôm được khắc ngược trên gỗ để in ra các sách tại Việt Nam vào thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.

Dưới triều Nguyễn, do nhu cầu phổ biến rộng rãi các chuẩn mực của xã hội, các điều luật bắt buộc thần dân phải tuân theo, để lưu truyền công danh sự nghiệp của các vua chúa, các sự kiện lịch sử..., triều đình đã cho khắc nhiều bộ sách sử và các tác phẩm văn chương để ban cấp cho các nơi. Quá trình hoạt động đó đã sản sinh ra một loại hình tài liệu đặc biệt, đó là mộc bản.

Tất cả nội dung các bản thảo được khắc trên mộc bản đều được hoàng đế trực tiếp ngự lãm, phê duyệt bằng bút tích trước khi giao cho những người thợ tài hoa nhất trong cung đình khắc lên gỗ quý. Do tính chất cực kỳ quan trọng của mộc bản, dưới thời Minh Mạng, nhà vua từng có chỉ dụ: “Sai quan Bắc thành kiểm xét các ván in nguyên trữ tại Văn Miếu (Hà Nội) về các sách Ngũ Kinh, Tứ Thư Đại Toàn, Vũ Kinh Trực Giải cùng Tiền Hậu Chính Sử và Tứ Trường Văn Thể gửi về kinh để ở Quốc Tử Giám (Kinh đô Huế)”. Đây là những tài liệu gốc, độc bản, có giá trị, phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử và văn hóa Việt Nam thời cận đại.

Trong các văn bản mộc bản còn lưu giữ, có nhiều ghi chép về Thuận Hòa. Các văn bản nhắc về chính sách cai trị, làm sao để cuộc sống của người dân được ấm êm, được sống, được làm ăn.  Những yếu tố tìm thấy trong những giá trị dân tộc là điểm thuận lợi để ta thấy đã có những giá trị bên trong nội lực. 

Có mộc bản còn nhắc đến lòng nhân ái của các vị vua với tù nhân. Có mộc bản nói về quyền tự do biểu đạt. Chẳng hạn như Cây đình nghị - là cây gỗ để người dân viết ý kiến lên đó hay Trống đăng văn - tiếng trống để người dân trình bày tiếng nói của mình, đánh trống kiến nghị. Hội nghị Diên Hồng xưa kia cũng là một hình thức đại nghị sơ khai, lấy ý kiến toàn dân về quyền tự quyết nên đánh hay hòa. Mộc bản Thiên “Quảng Ngôn Luận” – thời vua Minh Mạng với 15 điều quốc sách do người dân dâng lên. Triều thần cho rằng nên trị tội nhưng vua Minh Mạng nói muốn người dân nói ra ý kiến của mình. 

Trong một bản mộc bản có ghi chép về tấm lòng nhân đạo sâu sắc của vua Lý Thánh Tông qua hành động của vua đối với tù nhân, năm Ất Mùi 1055. Mặt khắc có ghi rằng: “ Mùa đông, tháng 10, vua bảo các quan tả hữu rằng: Trẫm ở trong cung, sưởi than xương thú, mặc áo lông chồn còn rét thế này, nghĩ đến người tù bị giam trong ngục, khổ sở về gông cùm, chưa rõ ngay gian, ăn không no bụng, mặc không kín thân, khốn khổ vì gió rét, hoặc có kẻ chết không đáng tội, trẫm rất thương xót. Vậy lệnh cho Hữu ty phát chăn chiếu và cấp cơm ăn ngày hai bữa”.

Trong một mặt khắc mộc bản khác, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn nói với Yết Kiêu về mối quan hệ giữa tướng và dân, năm Giáp Thân 1284 rằng: “Chim hồng hộc muốn bay cao phải nhờ ở sáu trụ cánh. Nếu không có sáu chiếc trụ cánh ấy thì cũng chỉ là chim thường thôi”.

Bản khắc mộc bản năm Đinh Mùi 1427 ghi chép lại việc Bình Định Vương Lê Lợi tha cho mười vạn quân giặc đầu hàng về nước như sau: “ Bọn Vương Thông, Phương Chính đã kế cùng, đành giữ thành bền lũy chờ cứu viện. Lửa không nhóm tự cháy, quả nhiên Liễu Thăng từ Bắc tiến sang giúp Hạ Kiệt làm càn. Lại thêm Mộc Thạnh từ phía Tây cũng tới. Nực cười hai đạo viện binh, giơ càng bọ ngựa chống xe, há chẳng ngu sao? Huống chi lấy chí nhân đánh bọn bất nhân, giặc tất phải khiêng thây mà chịu trói. Thú cùng trong cũi, vẫy đuôi xin tha. Thì rủ lòng nhân mà mở lưới Thang, cho múa mộc để phô đức Thuấn. Cuối cùng tha cho mười vạn quân hàng được toàn mạng mà về Bắc. Bốn biển hân hoan chiêm ngưỡng, thỏa lòng đã được hồi sinh. Phương xa mến đức sợ uy, chúc cống chăm lo hết phận. Ôi! Thịnh thay!”

Trong một bản khắc năm Kỷ Mùi 1439, Vua Lý Thái Tông nhân dịp đổi niên hiệu đã cho đại xá thiên hạ. Những người 70 tuổi trở lên được thưởng tước 1 tư và cho ăn tiệc.

Năm 1810, vua Gia Long đã cho phát chẩn gạo, cứu đói ở Bắc Thành. “Phát chẩn thêm cho dân đói ở Bắc Thành. Các trấn Kinh Bắc, Hải Dương, Yên Quảng và Sơn Nam hạ thuộc thành hạt lúa chiêm chưa chín, dân gian còn nhiều người đói. Thành thần xin phát chẩn thêm. Vua nói: Nhà nước chứa góp vốn là để nuôi dân”. Ra lệnh phát thêm gạo kho 5.000 phương, sai bọn Phạm Như Đăng, Nguyễn Đình Đức, Hoàng Ngọc Uẩn chia đi các nơi để chẩn cấp. Thành thần lại tâu nói: “Cửa sông Thiên Đức ở Kinh Bắc bị ứ lấp, mưa lụt làm hại, đường sá ở Lạng Sơn thì rừng rú rậm rạp, xin họp dân đói cho khơi sông và phát đường, hàng ngày cho ăn”. Vua y lời tâu, sai phát 3000 phương gạo để cấp.”

Các mộc bản Triều Nguyễn đã cho người xem cái nhìn khái quát về nhân quyền con người trong thời kỳ phong kiến. Những tư tưởng tiếp nối xuyên suốt quá trình lịch sử và tạo tiền đề cho quyền con người trong xã hội hiện đại hôm nay.

Hình ảnh bản khắc mộc bản về quyền con người được trình bày trong triển lãm “Vì hạnh phúc của mỗi người” tại Đà Lạt từ ngày 18 – 22/12/2019.