Cục Thông tin đối ngoại – Bộ Thông tin Truyền thông
Cục Thông tin đối ngoại – Bộ Thông tin Truyền thông
Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Quảng Nam
Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Quảng Nam
Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước
Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước
Ủy ban nhân dân thành phố Hội An
Ủy ban nhân dân thành phố Hội An
Văn phòng Thường trực về Nhân quyền
Văn phòng Thường trực về Nhân quyền
news_details

Khẳng định chân lý “Không có gì quý hơn Độc lập – Tự do”

Khẳng định chân lý “Không có gì quý hơn Độc lập – Tự do”

Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập trên Lễ đài Quảng trường, Ba Đình, Hà Nội, ngày 2/9/1945

Nhận thức về quyền con người và việc thực hiện quyền con người gắn với tiến trình phát triển của nhân loại, từng hình thái kinh tế - xã hội, các quyền tập thể như quyền dân tộc cơ bản, tự quyết, bình đẳng giữa các dân tộc và quốc gia, quyền phát triển, quyền thông tin, quyền được sống trong hòa bình, môi trường lành mạnh…Đất nước ta trải qua hang ngàn năm dựng nước và giữ nước và giữ nước từ thân phận nô lẹ, quyền con người bị chà đạp, áp bức đã đấu tranh kiên cường, bền bỉ để giành lại những quyền cơ bản và thiêng liêng nhất của con người – đó là quyền được sống trong độc lập, tự do và quyền được tự quyết định vận mệnh của mình.

Từ thời các vua Hùng dựng nước, các triều đại phong kiến Việt Nam đã kết hợp giữa “Đức trị”, “Nhân trị” với “Pháp trị”, giữa “Trị quốc” và “An dân”. Tư tưởng “Lấy dân làm gốc” đã được Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi đề cập một cách trực tiếp và gián tiếp từ những thế kỷ XIV, XV… Bởi vậy, lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam không có nhiều trang tàn bạo, khốc liệt như ở nhiều nước khác trên thế giới mà ngược lại, hầu như ở thời kỳ nào cũng có những ví dụ về tinh thần khoan dung, nhân đạo.

Bản Tuyên ngôn độc lập của dân tộc

Khác với các văn kiện lập quốc trong những thời kỳ lịch sử trước đó, như: “Nam quốc sơn hà” (thế kỷ XV) dựa trên truyền thống yêu nước của dân tộc, Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ kế tiếp truyền thống lịch sử mà còn dựa trên tính chất của thời đại. Đó là, các dân tộc có quyền giành lại độc lập, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời, có tránh nhiệm bảo đảm các quyền công dân và quyền con người. Theo đó, quyền công dân, quyền con người của nhân dân ta có sự thay đổi mang tính bước ngoặt lịch sử, từ thân phận nô lệ, lầm than đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.

Bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Bản Tuyên ngôn Độc Lập ghi rằng:

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

……..

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!

Vì những lẽ trên, chúng tôi, chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.” 

Bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945 trở nên bất hủ là bởi tư tưởng nhân bản về quyền tự do của con người, là tư tưởng chủ đạo xuyên suốt. Đó là sự hòa quyện giữa khát khao cho mục tiêu quốc thái dân an với tư tưởng tiến bộ về quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của mỗi người dân mà Người tiếp thu được qua hàng chục năm bôn ba tìm đường cứu nước ở châu Âu và bắc Mỹ.

Với quan điểm tư tưởng vì con người; vì tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân; với đạo đức cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư của một một bậc minh triết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành ngọn cờ tập hợp mọi từng lớp nhân dân, tạo nên sức mạnh vĩ đại để giải phóng dân tộc, thực hiện mục tiêu quốc thái dân an.

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị cha già kính yêu của dân tộc

Ngày nay, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quyền con người, quyền tự do bình đẳng, quyền mưu cầu hạnh phúc của nhân dân trong Tuyên ngôn độc lập vẫn còn nguyên giá trị. Tư tưởng đó vừa là nguyên lý vừa là tiền đề để tập hợp sức mạnh của toàn dân tộc thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội, dân chủ, công bằng, văn minh; và bảo vệ vững chắc lãnh thổ, chủ quyền quốc gia.